
Đền Thủy Thiên Quang
Tên chữ: 水 天 光 祠 (Thủy Thiên Quang từ)
Thông tin khái quát
Lịch sử hình thành và phát triển
Tại phố Hàng Bún xưa có hai ngôi đền là đền Am thờ bách linh (tức là vong hồn những người chết vô thừa nhận) ở số nhà 15 và đền Thủy Thiên Quang thờ Bà Chúa Kho Châu Nương phu nhân ở số nhà 34. Sau này, đền Thủy Thiên Quang được chuyển về địa chỉ chung với đền Am xưa.
Giá trị tín ngưỡng và tâm linh
Đền Thủy Thiên Quang hiện nay là ngôi đền thờ Mẫu, một hình thức thờ cúng bản địa lâu đời của người Việt, xuất phát từ tín ngưỡng phồn thực và tôn thờ nữ thần. Dưới ảnh hưởng của xã hội phong kiến và Nho giáo, vai trò của người phụ nữ nhiều lúc bị xem nhẹ, nhưng trong tâm thức dân gian, hình ảnh người mẹ vẫn luôn giữ vị trí thiêng liêng, trở thành biểu tượng của sự sinh sôi, bảo trợ và che chở.
Đền phối thờ Tam tòa Thánh Mẫu, Đức Thánh Trần và Bà Chúa Kho Châu Nương phu nhân, tương truyền là hóa thân của công chúa Bạch Ngọc, em gái Ngọc Hoàng.
Hiện vật và điểm nhấn nổi bật
Trong đền hiện còn lưu giữ tư liệu về nguồn gốc của Châu Nương phu nhân, do nhà Hà Nội học Nguyễn Vĩnh Phúc dịch lại từ thần tích làng Giảng Võ. Châu Nương vốn là con gái họ Lý, xưa ở làng Giảng Võ, có công bảo vệ kho tàng chống giặc, thời vua Nhân Tông, nên được nhân dân lập đền thờ. Cha của Châu Nương là Lý Quỳnh, người làng Cổ Pháp (Bắc Ninh), làm chức Điền bộ binh lương, tức là coi kho, lấy người thiếp ở Giảng Võ và sinh ra Châu Nương. Lúc nhỏ, Châu Nương học chữ Hán với một ông thầy ở phường Bích Câu, không rõ tên, đến năm Châu Nương 18 tuổi thì cha mất. Châu Nương đẹp người và hay chữ có tiếng trong số các bạn gái thời đó. Có vị quan họ Trần, tước thái bảo, là đốc bộ ở Hoan châu (Nghệ An), ghé qua Thăng Long, nghe tiếng Châu Nương, xin cưới làm thiếp. Năm đó, Châu Nương hai mươi tuổi. Gặp lúc quân Nguyên Mông từ phía Chiêm Thành tràn ra cướp phá Hoan châu, thái bảo đi chống giặc ở đèo Ngang, giao cho Châu Nương ở lại chỉ huy quân sĩ bảo vệ kho tàng lực lượng. Giặc lúc này rất mạnh, thái bảo phải rút về Diễn Châu củng cố và bổ sung đội ngũ. Thành Hoan châu bị giặc vây riết, tình hình rất nguy nan. Châu Nương rất bình tĩnh, gan dạ không hề nao núng, giúp chồng bảo vệ vững chắc thành Diễn Châu, làm hậu phương tốt, do đó thái bảo có điều kiện chuẩn bị phản công. Quả nhiên, ít lâu sau, thái bảo tập kích giặc từ ngoài đánh vào, và trong đánh ra khiến giặc phải rút chạy về phía Đèo Ngang, thuộc Bố Chính (Quảng Bình ngày nay).
Được tin thái bảo thắng trận, vua Trần triệu cả hai vợ chồng về kinh đô khen ngợi, và giao cho hai vợ chồng nhiệm vụ ở lại tham gia bảo vệ kinh đô, đề phòng giặc báo thù. Thái Bảo được giao cho chức Tiền Quân Dực Thánh, có ý nghĩa xung kích bảo vệ nhà vua, và Châu Nương nhận nhiệm vụ coi kho phủ Phụng Thiên, tức ở kinh đô Thăng Long. Quả nhiên, giặc Nguyên Mông kéo sang báo thù, đốt phá kinh thành. Thế trận quá mạnh, triều đình phải rút khỏi kinh đô để bảo toàn lực lượng. Thái bảo được giao bảo vệ mặt trận phía sông Thao, rồi tử trận ở đó. Châu Nương nghe tin chồng mất thì khóc lóc thảm thiết, ngửa mặt than rằng: “Trời sinh ra ta là gái, nhưng ta nguyện vì dân, vì nước, dù thịt nát xương tan, mong được tiếng thơm muôn đời”. Sau đó, biết không thể cản được giặc nữa, phu nhân cho phân tán, cất giấu của cải được chừng nào hay chừng ấy, rồi vào kho lấy khăn hồng thắt cổ tự vẫn. Người dân cảm phục khí tiết của phu nhân, tin rằng phu nhân không chết, đã hóa phép về trời, tấm khăn hồng bay về làng Giảng Võ, nơi sinh của bà. Khi quân giặc vào kho lùng sục, thấy kho trống trải, chỉ có con rắn lớn, hung dữ lao ra, nên chúng phải bỏ đi, người ta nói đó là hồn của phu nhân nhập vào rắn thần. Sau khi quân giặc bị dẹp tan, thượng hoàng Thánh Tông và vua Nhân Tông về kinh, nghe tin Châu Nương tử tiết, bèn phong là “Quản chưởng quốc khố công chúa” và sức cho làng Giảng Võ cùng các làng ở Diễn Châu lập miếu thờ.
Kiến trúc và không gian di tích
Trong các ảnh chụp vào đầu thế kỷ 20, đền Thủy Thiên Quang vốn rất khang trang và mang phong cách đặc trưng của kiến trúc đền miếu thời Nguyễn với tam quan xây gạch, mái tam quan đắp lưỡng long chầu nguyệt, trán cổng có hoành phi chữ Hán “Thủy Thiên Quang”. Qua một sân nhỏ dẫn vào bái đường có mái lợp ngói ta, đầu đao cong nhẹ.
Đền Thủy Thiên Quang hiện nay có diện tích khiêm tốn, gồm 3 tầng, với một gian thờ duy nhất nằm trên tầng 3. Chính giữa là Tam tòa Thánh Mẫu, bên trái là ban thờ Bà Chúa Kho và bên phải là ban thờ Hưng Đạo Đại vương.
Giá trị hiện nay
Dù di tích hiện nay không còn nguyên vẹn nhưng đền Thủy Thiên Quang vẫn là một di tích tiêu biểu của loại hình đền thờ tín ngưỡng dân gian trong không gian đô thị, là chứng nhân cho những đổi thay và tác động của quá trình đô thị hóa lên các công trình tín ngưỡng tâm linh.
Thông tin liên hệ
• Người đại diện: Nguyễn Trọng Cường
• Liên hệ: 0904829955
Dịch vụ
Sự hài lòng
Độ hấp dẫn